Giới thiệu pháp Thiền Nguyên Thuỷ của Đức Phật - HT Thích Minh Châu Phần 3
Phần 1 Phần 2
Phần 1 Phần 2
Phần 1 Phần 2
Trong kinh Tiểu Khổ Uẩn, Đức Phật nói lên kinh nghiệm của mình khi chưa thành Phật, đối với năm dục trưởng dưỡng, nếu không có Thiền định thời không thể đoạn trừ chúng. Đoạn kinh viết như sau:
"Này Mahanama, thủa xưa, khi Ta còn là Bồ Tát, chưa chứng được Bồ Đề, chưa thành Chánh Đẳng Chánh Giác, ta khéo thấy như thật chánh kiến: "Các dục vị ít, khổ nhiều, não nhiều. Sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn". Dàu ta khéo thấy với như thật chánh kiến như vậy, nhưng Ta chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn. Và như vậy, Ta biết rằng Ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Và này, Mahanama, khi nào Ta khéo thấy với như thật chánh kiến, các dục vui ít khổ nhiều, não nhiều. Sự nguy hiểm ở đây lại nhiều h=ơn và Ta chứng được hỷ lạc do ly dục ly bất thiện pháp sanh hay một pháp nào cao thượng hơn, như vậy ta khỏi bị các dục chi phối".
Trong Kinh bãy mồi (Kinh Trung Bộ), Đức Phật dùng ví dụ bốn đàn nai để nói lên công dụng của Thiền đối trị được các dục trưởng dưỡng, làm cho Ác ma mù mắt không biết đường đi lối về. Đoàn nai đầu, thấy các bẫy mồi do các thợ săn gieo và đặt liền xâm nhập, ăn các bẫy mồi ấy, trở thành tham đắm và rơi vào trong tay các người thợ săn. Đoàn nai thứ hai, thấy kinh nghiệm của đoàn nai đầu, liền sợ hãi bỏ chạy vào rừng, không dám đến gần các bẫy mồi. Nhưng mùa hạ đến thiếu nước, thiếu đồ ăn, đoàn nai thứ hai phải trở ra, xâm nhập và ăn các đồ bẫy mồi của thợ săn và cuối cùng bị lâm nạn như đoàn nai đầu. Đoàn nai thứ ba tinh khôn hơn, thấy hai đoàn nai đầu bị nạn, liền tìm một chỗ ẩn núp gần các bẫy mồi của các người thợ săn, ăn các bẫy mồi nhưng không xâm nhập, không tham đắm nên không rơi vào tay của các người thợ săn. Nhưng các thợ săn lại tinh khôn hơn. Chúng dò la thông tích của đoàn nai ấy, và tìm được chỗ ẩn nấp của đoàn nai thứ ba, và đoàn nai này cuối cùng cũng rơi vào trong tay của các người thợ săn. Đoàn nai thứ tư rất tinh khôn, rút kinh nghiệm của ba đoàn nai trước tìm một chỗ ẩn nấp không để lại một dấu vết gì khiến cho các người thợ săn có thể biết chỗ ẩn nấp của mình, và từ nơi chỗ ấy đi đến các bây mồi nhưng không xâm nhập, không có say đắm, nên cuối cùng thoát được cạm bẫy của người thợ săn.
Các người thợ săn tượng trưng cho Ác ma. Các bẫy mồi chỉ cho năm dục trưởng dưỡng. Các đoàn nai chỉ cho các Sa môn, Bà la môn tu hành. Đoàn nai thứ nhất chỉ cho các Sa môn, bà la môn xâm nhập, đắm say năm dục trưởng dưỡng nên trở thành nạn nhân của Ác ma. Đoàn nai thứ hai diễn tả những Sa môn bà la môn học được kinh nghiệm của đoàn nai thứ nhất, hoàn toàn từ bỏ các đồ mồi, và các vật dụng thế gian, sống kham nhẫn trong rừng sau. Nhưng đến mùa hạ, có nước khan hiếm, thân hình các Sa môn Bà la môn trở thành gầy yếu, sức lực kiệt quệ. Do vậy chung trở luu lại các đồ mồi do các Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian. Chúng xâm nhập, tham đắm các món ăn. Cho nên chúng trở thành nạn nhân của Ác ma như đoàn nai thứ nhất. Đoàn nai thứ ba học được kinh nghiệm của hai đoàn nai đầu, không xâm nhập, không tham đắm, không có chạy trốn vào rừng. Trái lại chúng làm một chỗ ẩn nấp gần các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian, không xâm nhập, không tham đắm, chúng căn các đồ ăn do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian. Nhờ vậy chúng không trở thành nạn nhân của Ác ma. Nhưng rồi chúng khởi lên tà kiến: "Thế giới là thường còn hay không thường còn,, thế gới là hữu biên hay vô biên" v.v... Do vậy hạng Sa môn Bà la môn này không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Đoàn nai thứ tư tượng trung cho hạng Sa môn Bà la môn rút kinh nghiệm của ba hạng Sa môn trước, không xâm nhập, không tham đắm, thọ dụng năm dục trưởng dưỡng cho nên Ác ma không thể tìm được dấu vết... Chúng làm một chỗ ẩn nấp khiến cho Ác ma và Ác ma quyến thuộc không thể đến được. Làm chỗ ẩn nấp xong, chúng không thể xâm nhập, không tham đắm ăn các đồ ăn do Ác ma gieo ra, và các vật dụng thế gian. Nhờ vậy chúng không trở thành mê loạn và cuối cùng chúng không trở thành những vật bị làm theo ý Ác ma muốn.
Và Đức Phật dạy: "Này các Tỳ kheo, sao gọi là Ác ma và Ác ma quyến thuộc không thể đến được? Ở đây này các Tỳ kheo, Tỳ kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất... chứng và trú Thiền thứ hai... chứng và trú Thiền thứ ba... chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm, thanh tịnh. Như vậy gọi là Tỳ kheo làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Ác ma, không còn dấu tích khiến Ác ma không thấy đường đi lối về"
Một sức mạnh của Thiền là đem lại sự không sợ hãi cho người hành Thiền. Trong kinh Chư Thiên (Tăng Chi Bộ), có đề cập đến chư Thiên đánh nhau với Atula. Trong trận chiến này chư Thiên bại trận và bỏ chạy, các Atula đuổi theo. Chư Thiên dừng lại đánh trận thứ hai, cũng bị bại trận và chạy dài, và các Atula đuổi theo. Chư Thiên dừng lại và đánh trận thứ ba, cũng bị bại trận và cũng chạy dài. Lần này chư Thiên lại vào ẩn náu trong thành phố chư Thiên, và chư Thiên biết rằng núp vào trong thành này, các Atula không có thể đến đánh. "Chư Thiên suy nghĩ như sau: "Nay Chúng ta đã đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng ta sống với chúng ta, không có gì phải làm với các Atula". Này các Tỳ kheo, các Atula cũng suy nghĩ như sau: "Nay chư Thiên đã đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chung sống với chúng nó, không có gì phải làm với chúng ta."
"Cũng vậy, này các Tỳ kheo, trong khi Tỳ kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ... chứng đạt và an trú Thiền thứ hai... chứng đạt và an trú Thiền thứ ba... chứng đạt và an trú Thiền thứ tư... trong khi ấy này các Tỳ kheo, Tỳ kheo ấy suy nghĩ như sau: "Với sự đi đến chỗ ẩn náu của sợ hãi, ta sống với tự ngã, không có việc gì phải làm với Ác ma." Này các Tỳ kheo, chính Ác ma cũng suy nghĩ như sau: "Với sự đi đến chỗ ẩn náu của sợ hãi, Tỳ kheo sống với tự ngã, không có việc gì phải làm với ta..."Này các Tỳ kheo, như vậy gọi là Tỳ kheo làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Ác ma, không còn dấu tích, khiến Ác ma không tháy đường đi lối về".
Trong kinh Upali (Tăng Chi Bộ), Đức Phật nói đến sức mạnh của hành Thiền, và khuyên chỉ có những Tỳ kheo hành Thiền mới nên ở tại các rừng núi xa vắng. Tôn giả Upali, muốn tu hành tại các trú xứ xa vắng, Đức Phật dạy: "Thật không dễ dàng sống tại các rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Khó khăn là đời sống viễn ly, khó ưa thích là đời sống độc cư. Ta nghĩ rằng cá ngôi rừng làm loạn ý Tỳ kheo chưa được Thiền Định. Này Upali, ai nói như sau: "Dầu tôi chưa được Thiền Định, tôi sẽ sôngs tại các rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng, thời người ấy được chờ đợi như sau: "Vị ấy sẽ chìm xuống đáy hay nổi lên mặt nước".
Rồi Đức Phật dùng ví dụ một con voi lớn có thể lặn xuống hồ nước, tắm rửa và chơi các trò chơi của con voi, xong rồi leo lên bờ một cách an toàn. Vì tự ngã to lớn của con voi, tìm được chân đứng trong hồ nước. Trái lại một con mèo hay một con thỏ, thấy con voi làm vậy cũng bắt chước làm theo, nghĩ rằng con voi làm được thời mình cũng làm được. Không suy nghĩ tính toán, nó nhảy xuống hồ nước. Với con mèo hay con thỏ ấy, được chờ đợi là nó chìm xuống đáy nước hay nổi lên mặt nước, vì tự ngã nhỏ bé của nó không tìm được chân đứng trong hồ nước.
Cũng vậy này Upali, ai nói rằng: "Dầu tôi không được Định, tôi sẽ sống trong các rừng núi cao nguyên tại các trú xứ xa vắng". Với vị ấy, được chờ đợi rằng: "Nó sẽ chìm xuống hay nổi lên trên mặt nước" Như vậy Thiền đem lại cho chúng ta một sựsự không sợ hãi, làm lắng dịu mọi hoảng hốt run sợ, khiến người hành Thiền có thể sống trong rừng sau hoang vắn không chút sợ hãi.
Ở đây, chúng ta nhờ gương sáng của mười Tỳ kheo ni trong Tương Ưng Bộ Kinh, từ Tỳ kheo ni Alavika đến Tỳ kheo ni Vajira, cả mười Tỳ kheo ni này đối diện với Ác ma mà không một Tỳ kheo ni nào hoảng hốt bỏ chạy, vì tất cả mười vị Tỳ kheo ni này đều tu Thiền định.
Một khả năng nữa của Thiền là đem lại sự hỷ lạc cho người hành Thiền, từ Sơ Thiền với các hỷ lạc do ly dục sanh, đến nhị Thiền do định sanh, đến Thiền thứ ba không có hỷ chỉ có xả niệm lạc trú, đến Thiền thứ tư với xả niệm thanh tịnh, mỗi hỷ lạc tuần tự vi diệu hơn hỷ lạc trước, và các hỷ lạc này không chi phối tâm của người hành Thiền. Trái lại cho người hành Thiền hiện tại lạc trú, đúng như danh từ: Ditthadhammasukhavihari được định nghĩa cho Thiền. Như vậy, Thiền còn đem lại hỷ lạc cho người hành Thiền, và hỷ lạ có tác động như món ăn được gọi là xúc thực, đem lại sự lạc quan, nỗ lực, tinh tấn, phấn chấn, nghị lực cho người hành Thiền, chứ không phải đem lại bệnh hoạn, điên cuồng, loạn tâm, chán đời, tiêu cực như người ta đã gán một cách sai lạc cho hành Thiền.
Một trong những công năng tuyệt diệu của Thiền là đưa đến trí tuệ, từ trí tuệ đưa đến giải thoát, giải thoát tri kiến theo đúng quá trình Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát, Giải thoát tri kiến.
Quá trình thứ nhát là từ Thiền thứ tư, với tâm định tĩnh, thuận tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não. nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc bình tĩnh như vậy, hành giả hướng tâm đến Tú mạng minh, đến Thiên nhãn minh, đến lậu tận minh. "Vị ấy biết như thật "Đây là khổ", biết như thật "Đây là khổ tập", biết như thật "Đây là khổ diệt", biết như thật: "Đây là con đường đưa đến khổ diệt", biết như thật: "Đây là các lậu hoặc", biết như thật: "Đây là nguyên nhân các lậu hoặc", biết như thật: "Đây là lậu hoặc diệt", biết như thật: "Đây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt". Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát" vị ấy biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lui lại trạng thái này nữa" (Kinh Trung Bộ).
Một quá trình giải thoát được đề cập đến trong Bát thành Kinh (Kinh Trung Bộ), trong quá trình này Định và Tuệ, Chỉ và Quán đồng tu với nhau, từ Thiền thứ nhất hướng đến quán, từ Thiền thứ hai hướng đến quán, từ Thiền thứ ba hướng đến quán, từ Thiền thứ tư hướng đến quán... đưa đến các đoạn trừ lậu hoặc:
"Ở đây này các gia chủ, vị Tỳ kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vị ấy suy tư và được biết: "Sơ Thiền này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt. Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hoá sanh, nhập Niết bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Như vậy này gia chủ, là pháp độc nhất do Thế Tôn, bậc trí giả, bậc Kiến Giả, Bậc Alahan, Chánh Đẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỳ kheo không phóng giật, nhiệt tâm tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thì tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát và các lậu hoặc chưa đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt" Cũng như vậy đối với Thiền thứ hai, đối với Thiền thứ ba, đối với Thiền thứ tư."
Nhìn một cách tổng quát về Thiền, chúng ta thấy rõ vị trí quan trọng cảu Thiền trong quá trình Giới, Định Tuệ và như vậy giúp chúng ta đoạn trừ các dục, khiến cho ác ma không thấy đường; Thiền giúp chúng ta đoạn trừ các sợ hãi; Thiền đem đến cho chúng ta hỷ và lạc, thoải mái về tâm, thoải mái về Thân, Thiền đem đến sức khoẻ cho thân và cho tâm, cuối cùng Thiền định đưa đến trí tuệ, tâm giải thoát và tuệ giải thoát.
Qua những định nghĩa trên, chúng ta thấy Thiền định là một pháp môn có những định nghãi, những hành tướng đặc biệt và đa dạng. Trước hết, Thiền định là một sự hoà hợp giữa nhân lực và sức mạnh thiên nhiên, một sự hoàn hợp nhờ vị trí ngồi thiền, thời gian ngồi Thiền, khung cảnh ngồi Thiền. Thiền định lại còn một khả năng quyết trạch về thiện, hướng thiện và sự cứu cánh là thiện. Hơn nữa, Thiền có thể xem là một sự giáo dục về cảm thọ, nuôi dưỡng các cảm thọ tốt đẹp như hỷ lạc, xả và từ bỏ các cảm thọ không tốt đẹp như khổ, ưu. Thiền định là một sự giáo dục tâm lý, đoạn tận các tâm lý không tốt đẹp như năm triền cái, tham sân, si, và thay thế bởi những tâm lý tốt đẹp là năm thiền chi không tham, không sân, không si. Nói tóm lại, Thiền định là một giai đoạn thiếp theo giới và bước vào tuệ tức là Thiền quán.
Ở đây chúng tôi xin giới thiệu một pháp môn tu Thiền mà chúng tôi đã tìm ra được trong khi chúng tôi dịch bộ Samyutta Nykaya (Kinh Bộ Tương Ưng). Chúng tôi xin tóm tắt trình bày để giới thiệu với quý vị, nhất là quý vị có thể áp dụng thực hành, để có thể đánh giá đúng đắn pháp môn này và hưởng được những kết quả do Pháp môn này đưa đến. Đó là pháp môn Anapanasati, dịch là niệm hơi thở vô hơi thở ra, và được diễn tả như sau trong kinh "Một pháp" (Tương ưng, V):
"Có một pháp, này các Tỳ kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lướn. Thế nào là một pháp? Niệm hơi thở vô, hơi thở ra. Và này các Tỳ kheo, niệm hơi thở vô hơi thở ra. tu tập thế nào, làm cho sung mãn thế nào, có quả lớn, có lợi ích lớn?"
"Ở đây, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo đi đến rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống, và ngồi kiết già lưng thẳng. Đặt niệm trước mặt, vị ấy chánh niệm thở vô, chánh niệm thở ra".
"Thở vô dài, vị ấy rõ biết: "Tôi thở vô dài". Thở ra dài, vị ấy rõ biết: "Tôi thở ra dài". Thở vô ngắn, vị ấy rõ biết: "Tôi thởi vô ngắn". Thở ra ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở ra ngắn".
"Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành tôi sẽ thở ra", vị ấy tập".
"Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ tôi sẽ thở ra", vị ấy tập".
"Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở a", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, thôi sẽ thở vô", vị ấy tập. Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập".
"Quán vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán ly tham,tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Tu tập như vậy, này các Tỳ kheo, làm cho sung mãn, như vậy, niệm hơi thở vô, hơi thở ra có quả lớn, có lợi ích lớn".
Pháp môn này được Đức Phật xác chứng là đưa đến hai quả là Chánh Trí và Bất lai:
"Niệm hơi thở vô và hơi thở ra, được tu tập như vậy, này các Tỳ kheo, được làm cho sung mãn như vậy, được chờ đợi một trong hai quả sau: "Ngay trong đời hiện tại được Chánh Trí. Nếu có dư y, chứng quả bất lai" (Tương ưng Bộ).
Pháp môn này giúp người hành Thiền thoát khỏi thân rung động và tâm rung động:
"Nhờ tu tập như ậy, định niệm hơi thở vô hơi thở ra, này các Tỳ kheo nhờ làm cho sung mãn như vậy, nên thân không bị rung động hay giao động, tâm không rung động, không giao động" (Kinh Kappina, Tương ưng V).
Khi chưa giác ngộ, Đức Phập tu tập pháp môn này thân và mắt của Đức Phật không bị mệt nhọc và tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc:
"Này các Tỳ kheo, ta trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh đẳng giác, khi còn là bồ tát, ta trú nhiều với an trú này (Niệm hơi thở vô hơi thở ra); Do ta trú nhiều với an trú này thân ta và con mắt không có mệt nhọc, và tâm Ta được giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ. Do vậy, này các Tỳ kheo, nếu Tỳ kheo ước muốn rằng: "Mong rằng thân và mắt khỏi bị mệt mỏi và mong rằng tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ, thời định nhiệm hơi thở vô hơi thở ra này cần phải khéo tác ý" (Kinh ngọn đèn, Tương ưng V).
Có nhiều Tỳ kheo trong khi quán bất tịnh đối với thân thể, muốn từ bỏ thân này, nhàm chán, yếm ly với thân này, nên một số Tỳ kheo đã đem lại con dao để kết liễu đời sống của mình. Đức Phật nghe được liền tụ họp các Tỳ kheo lại, khiển trách và dạy tu Pháp môn niệm hơi thở vô hơi thở ra này.
"Này các Tỳ kheo, định niệm hơi thở vô hơi thở ra này được tu tập, được làm cho sung mãn là tịch tịnh thù diệu, thuần nhất (Arecanako), lạc trú, làm cho tất cả các ác bất thiện pháp đã sanh hay chưa sanh, làm chúng biến mất, tịnh chỉ lập tức. Ví như, này các Tỳ kheo, trong cuối tháng mùa hạ, bụi và nhớp bay lên, là đám mưa lớn trái mùa lập tức làm chúng biến mất, chỉ tịnh. Cũng vậy, này các Tỳ kheo, định niệm hơi thở vô hơi thở ra, được tu tập, được làm cho sung mãn, là tịnh tịnh thù diệu, thuần nhất, lạc trú, làm cho sung mãn, là tịnh tịnh, thù diệu, thuần nhất, lạc trú, làm cho các ác, bất thiện pháp đã sanh biến mất, tịnh chỉ lập tức" (Kinh Vesali, Tương Ưng V).
Khi tu tập 16 đề tài, trên các cảm thọ, trên tâm và trên các pháp, Đức Phật chỉ dạy cho chúng ta tập trung tâm tư như thế nào để đạt được kết quả trong khi hành Thiền. Ngài dạy như sau (Kinh Kimbila, Tương ưng V):
"Này Ananda, sống quán thân trên thân, vị Tỷ kheo, trong khi ấy trú nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tam ưu ở đời. Vì cớ sao? Này các Tỳ kheo, ta tuyên bố rằng tuỳ thuộc về thân, tức là hơi thở vô hơi thở ra. Do vậy này Ananda, quán thân trên thân, trong khi trú nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm nhiết phục tham ưu ở đời... Này Ananda, Ta tuyên bố rằng tuỳ thuộc tu tập định niệm hơi thở vô hơi thở ra, không phải cho người thất niệm và không tỉnh giác, do vậy này Ananda, quán tâm trên tâm, Tỳ kheo trong khi ấy trú nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... Này Ananda, quán pháp trên các pháp, Tỳ kheo trong khi ấy trú nhiệt tâmtâm, tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục tham ưu ở đời. Đoạn tận tham ưu, sau khi thấy với trí tuệ, vị ấy khéo léo trú xả. Do vậy này Anandad, quán pháp trên các pháp, Tỳ kheo trong khi ấy trú nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời."
"Ví như, này Ananda, một đống rác bụi lớn ở ngã tư đường, nếu từ phương Đông một cái xe đi đến và làm cho đống rác bụi ấy giảm đi, nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc...nếu từ phương Nam, một cái xe đi đến và làm cho đống rác bụi ấy giảm bớt đi, cũng vậy này Ananda, Tỳ kheo trong khi trú quán thân trên thân, làm cho giảm bớt đi các ác bất thiện pháp, khi trú quán thọ trên các cảm thọ... Khi trú quán pháp trên các pháp, làm cho giảm bớt đi các ác bất thiện pháp".
Với những đoạn trích dẫn lời dạy của Đức Phật về Pháp môn niệm hơi thở ra, chúng ta tìm hiểu và phân tích, và chúng ta có những nhận xét sau đây về pháp môn Anapanasati này:
1. Pháp môn này thuộc về pháp môn bốn niệm xứ (cattàroatipatthàna) tức là pháp môn đề cập đến bốn chỗ (xứ) để na trú niệm tức là thân, thọ, tâm, pháp. Pháp môn Anapanasati này đề cấp đến 16 đề tài để an trú tâm: bốn đề tài về thân, bố đề tài về cảm thọ, bốn đè tài về tâm, bốn đề tài về pháp. Người hành Thiền, vừa thở vô vừa thở ra, vừa suy tư quán tưởng trên 16 đề tài liên hệ đến hơi thở.
2. Pháp môn này gồm cả thiền định và trí tuệ, gồm cả chỉ (Samatha) và quán (Vipassana). Cả hai Chỉ Quán, Định Tuệ đều song tu trong pháp môn này. Khi dùng tầm tứ cột tâm trên hơi thở vô hơi thở ra, như vậy là Chỉ, như vậy là Định. Khi lấy trí tuệ quán sát 16 đề tài được lựa chọn, như vậy là quán như vậy là Tuệ.
3. Vì Pháp môn niệm hơi thở vô hơi thở ra là Chỉ quán song tu, Định Tuệ song tu nên hai động tác chủ yếu của pháp môn này cần phải được nghi nhận. Trước hết lấy tầm và tứ hướng tâm và cột tâm vào hơi thở vô hơi thở ra trong suốt thời ngồi Thiền, không rời ra một giây phút nào. Nhờ vậy đối trị được hôn trầm thuỵ miên, trạo hối và nghi ngờ. Trong suốt thời ngồi Thiền, tâm chúng ta không rời khỏi hơi thở vô hơi thở ra. Chỉ khi nào đạt đến Thiền thứ thư, chúng ta mới cần phải rời khỏi hơi thở vô hơi thở ra. Tiếp đến, chúng ta láy trí tuệ quán sát 16 đè tài được chọn lựa từ đề tài thứ nhất đến đề tài thứ 16, liên tục quán sát như vậy, và trong khi quán sát, chúng ta có sự cố gắng tu tập để thực hiện cho được đề tài mình đang quán sát, như vậy pháp môn này đặt nặng sự luyện tập tâm con người tuỳ theo đề tài lựa chọn.
Ví như muốn cho tâm mình được cảm giác hỷ và lạc, thời cần phải tập: "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra" vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô" vị ấy tập. "Cẩm giác lạ thọ, tôi sẽ thở ra" vị ấy tập. Muốn cho tâm được định tĩnh, thời phải tập: "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Tuỳ theo mình muốn tu tập tâm gì, quán theo pháp gì, thời mình hoàn toàn chú tâm vào vấn đề ấy đẻ tu tập, đây có thể xem như là một phương pháp tự kỷ ám thị, nhưng có được định lực hộ trì, nên khác với các phương pháp tự kỷ ám thị thông thường. Chúng ta nên xem như là một Pháp môn huấn luyên tâm lý, đặc biệt chọn lựa nhưng tâm lý cảm thấy cần phải huấn luyện để phát triển và luyện cho được tâm lý ấy.
4. Như lời Đức Phật dạy, Pháp môn này đưa đến quả chứng được Chánh trí ngay trong hiện tại, nếu còn dư y, chứng được quả Bất Lai. Như vậy Pháp môn này đưa đến cứu cánh giác ngộ và giải thoát.
5. Pháp môn này giúp chung ta chế ngự được thân rung động và tâm rung động, giúp cho thân của chúng ta, con mắt của chúng ta không có mệt mỏi. Pháp môn này lại là một pháp môn tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất, không gây một tác hại gì cho thân tâm. Trái lại giúp người hành Thiền hiện tại lạc trú. Pháp môn này lại có khả năng đoạn tận tham ưu, làm vơi nhẹ các pháp bất thiện.
Do vậy, hành trì pháp môn Anapanasati này, không đem lại một tác hai gì đến thân tâm, không có buà chú, không có bắt ấn, không có phù phép, hoàn toàn là một nếp sống lành mạnh, trong sáng, một phương pháp giáo dục hướng thượng chỉ đem lại lợi ích cho người hành giả nhờ không khi trong lành khi hành Thiền, nhờ thở vô thở ra điều hoà, nhờ nuôi dưỡng các cảm thọ hỷ lạc, nhơ tâm được gột sạch các triền cái nên con mắt được sáng suốt, thân thể được khoẻ mạnh, phổi thở vô thở ra được điều hoà, tim đập được điều hoà, mạch nahyr được điều hoà, giúp người hành giả tiến dần đến giác ngộ và giải thoát.
Chúng tôi đã trình bạy những kinh nghiệm bản thân về Thiền của Đức Phật trước khi thành đạo, trong khi thành Đạo, trong suốt 45 năm thuyết pháp và trong khi Ngài nhập Niết bàn. Chúng tôi cũng đã trình bày những lời dạy căn bản của Đức Phật về vấn đề hành Thiền. Chugns tôi cũng đã giới thiệu pháp môn niệm hơi thở vô hơi thở ra để quý vị Phật tử và học giả có thể nghiên cứu và thực hành.
Nếu chúng ta áp dụng Pháp môn niệm hơi thở vô hơi thở ra ngay trong đời sống hiện tại, áp dụng một cách giản dị và kiên trì, có thể 15 phút, nửa giờ hay 1 giờ hàng ngày, trong các buổi sớm hay buổi tối, thời dần dần chung ta sẽ thâu nhận được kết quả thiết thực của pháp môn này. Đối với những vị chú trọng về dưỡng sinh, niệm hơi thở vô hơi thở ra đem lại cho quý vị sức khoẻ thân tâm cần thiết và tiến đến gần "Vô bệnh, lợi tối thượng" (Arogyà paramàlabhà).
Đối với những vị muồn hoà hợp sức mạnh nội tâm với sức mạnh thiên nhiên, ngồi Thiền giữa trời trong cảnh thanh vắng tịch mịch của ban đêm hay trong rừng sau cô tịch, sẽ đưa lại cho chúng ta nhiều cảm giác kỳ diệu. Đối với những ai muốn giáo dục cảm thọ, nuôi dưỡng các cảm thọ lành mạnh, đối trị với khổ ưu, nuôi dưỡng hỷ lạc, niệm hơi thở vô hơi thở ra có thể giúp họ hiện tại lạc trý và nhìn đời với cặp mắt lạc quan. Đối với những vị muốn đi sau vào vấn đề tâm lý, giáo dục, nuôi dưỡng cho mình các sức mạnh Niệm, Định, Tuệ; Pháp môn Thiền về hơi thở này giúp họ đạt được cứu cánh của Phạm hạnh chứng được tâm giải thoát và tuệ giải thoát.
Chúng ta hãy cố gắng làm sống dạy ý nghĩa lành mạnh của hành Thiền nguyên thuỷ, áp dụng pháp môn niệm hơi thở vô hơi thở ra trong đời sống hàng ngày của chúng ta và như vậy chúng ta vừa báo đáp ân đức thuyết pháp độ sanh của Đức Phật và tự mình được san sẻ những kinh nghiệm về Thiền của Đức Phật. Có vậy chúng ta mới đánh giá đúng đắn phương pháp hành Thiền của Đức Phật và được hưởng thọ những ảnh hưởng tốt đẹp của Pháp môn hành Thiền.
Hoà Thượng Thích Minh Châu
Trích: "Hành Thiền", Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên, 1993
Phần 1 Phần 2
Nhận xét
Đăng nhận xét