Chúng ta sống trong xã hội, ai cũng chạy theo thời gian. Khi về hưu, con cái ở xa, ở một mình sinh ra buồn phiền lo nghĩ chuyện này chuyện kia. Hầu như ai cũng có cái lỗi khổ riêng, đôi khi không thổ lộ với ai cả. Bên ngoài thì sống với mọi người, che dấu phiền não của mình. Bản chất cuộc đời, ai cũng cô đơn, đối diện riêng tư với nỗi buồn che giấu bên trong. Cái Thiền lôi tất cả cái bất an, cái che giấu đó ra, những lo âu phiền não đó ra, bằng Tuệ Minh Sát. Không những cắt được lỗi buồn, trạng thái cô đơn, tuỳ miên kiết sử ngủ ngầm trong con người. Đạo Phật là đạo như thực, tu tập để đối diện với sự thực.
Câu hỏi: Khi con học thiền, con học theo hơi thở, hít vô thở ra. Con có nghe nói có pháp thiền hít vô phồng bụng, thở ra xẹp bụng. Con nghe thầy nói nhưng cũng không rõ. Con biết bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đau ung thư phổi, bác sĩ bảo 2 năm nữa, nhưng bác sĩ thiền theo hơi thở phồng xẹp sống thêm 50 năm nữa. Con cũng không biết thực hư ra sao.
- Cái phồng, xẹp ban đầu chỉ như cái đinh để mắc cái áo, cái cớ để tâm trú vào đó. Bởi vì khi mà có người lắng nghe hơi thở vào ra, hơi thở nhỏ nhẹ quá nên khó thấy lúc vô ra vào. Tâm mình cũng thi thoảng nhảy đi đâu không thấy. Nên có người chắc ăn để tay lên bụng, để khi hít vô ghi nhận cái phồng, thở ra ghi nhận cái xẹp cho rõ ràng để tay ghi nhận. Điểm thứ hai là, cũng giống như hít thở, có người không ghi nhận phồng xẹp mà ghi nhận 3 nơi: chót mũi, ngực và đan điền, giống như cái bó củi được cột 3 nơi. Để tâm mình trú nơi đó, để hơi thở an trú tâm và phồng xẹp cũng để an trú tâm. Còn cái dụng của hơi thở để chữa bệnh cũng là sự thật. Hoàn toàn chỉ theo dõi hơi thở vào ra, chưa nói đến khí công. Khí công lấy hơi thở biến thành tinh, để mà nuôi dưỡng cột sống, tạo nên sức khoẻ lâu dài. Ví dụ các đạo gia, sau giờ Tí (Dương sinh) ngồi hít thở thật sâu hâm nóng khí trong bụng, nhót hậu môn lại, tưởng tượng khí nóng chạy lên cột sống, não, mũi. Cái đó của Đạo gia, luyện tinh thành khí, khí hoá thần. Nhưng cái đó không phải của Đạo Phật. Cái này chỉ tăng sức khỏe và dục vọng không hợp Đạo Phật. Trường hợp bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chỉ chú tâm vào hơi thở có thể chữa được bệnh. Có thể hàng chục hàng trăm trường hợp như vậy chỉ chú tâm hơi thở để chữa trị mọi căn bệnh. Chữa trị mọi căn bệnh là không chữa trị gì cả. Để cho bộ phận khi mà tâm yên tĩnh điều chỉnh toàn bộ sai trật, khí huyết, âm dương thuỷ hoả nơi thân. Thân tự điều chỉnh và chữa lành mọi căn bệnh cho riêng mình. Nếu tinh tưởng hành thiền chữa bệnh thì nên ngồi ba thời. Chỉ ngồi yên theo hơi thở, không nghĩ tưởng gì cả, chú tâm hơi thở. Không nghĩ tưởng thì không tiêu hao năng lượng, và thở tự nhiên thì thân tâm điều hoà. Thân sẽ tự điều chỉnh, bởi vì gốc bệnh của con người cũng do âm dương thuỷ hoả. Âm dương thuỷ hoả bất hoà sinh ra mọi điên đảo và bệnh tật. Người nào chỉ cần điều chỉnh thân và tâm. Thân tâm tự điều chỉnh những mất mát rối loạn. Vài sách thiền của các Thiền sư giảng có ghi lại những điều đó. Hành Thiền khoảng chừng 7 tuần thì các bệnh trầm trọng cũng có hiệu quả.
Câu hỏi: Một thời khoảng bao nhiêu tiếng thưa Thầy?
- Khoảng 45 phút đến 1 tiếng
Câu hỏi: Người ta nói hành thiền phải có vị Thầy và phải trình Pháp. Như chúng con tập Thiền ở nhà thì không có vị thầy và không có trình pháp. Làm sao mình biết tu tập như thế nào cho đúng?
- Mình lấy pháp làm thầy, khi hành thiền có hiện tượng phát sanh. Mình biết rõ hiện tượng nào là đúng, hiện tượng nào là sai. Tiện đây tôi cũng nói rõ cho các vị luôn. Người nào hành thiền nhiếp tâm đúng, đi theo mục đích thiền, nội dung thiền, có hiện tượng pháp sinh đúng, hiện tượng phát sinh sai. Hiện tượng nào đúng thì theo, hiện tượng nào sai nên xoá bỏ. Trước khi nói các hiện tượng phát sanh trong thiền, tôi xin trình bày chỗ chúng ta hay lầm lẫn. Đó là về chỗ trú niệm của Mật Tông, nó khác với pháp môn hành thiền mà Đức Phật hướng dẫn. Mật tông phát sanh hiệu quả vì chú tâm chú tâm chú tâm vào một câu chú, sẽ đạt cận định. Sở dĩ những người niệm chú phát sanh năng lực này năng lực nọ là có lí do. Do tưởng sinh. Thiền Định tự nhiên đi vào yên lặng, tâm thanh tịnh không có chú. Khi niệm chú là do đức tin cộng với định và tưởng nên phát sanh năng lực này năng lực nọ. Nếu dừng lại ngang đó thì chỉ có định thôi, chưa có tuệ giác, nên cũng sinh ra nguy hiểm. Bởi vì chính Tuệ giác mới là Đạo phật. Luyện Định để làm tâm an tịnh để tu Minh Sát. Còn với Mật tông, do đọc câu chú không hiểu gì cả nên mới phát sinh đức tin, mới phát sinh năng lực. Nên khi giải nghĩa ra rồi thì không còn năng lực gì cả. Năm 1980 tại Kì Viên, khi tôi đang ở đó và Ngài Viên Minh trụ trì, có một người ở Rạch Giá lên, trú chân bên hiên chùa. Vô tình nghe chư tăng tụng kinh bằng Pali, vị đó vô đảnh lễ ngài Viên Minh, bảo con không ngờ đây là chùa Mật Tông. Sư Viên Minh bảo đây là chùa Therevada. Vị khách bảo: con thấy đọc chú Mật tông. Khi hỏi ra thì mới biết ông này có niệm câu chú Mật tông, niệm câu kệ tiếng Phạn bao nhiêu năm, phát sanh năng lực thấy biết tâm và cảnh giới này kia. Sư Viên Minh có nói đây là Kinh không phải là chú. Sư Viên Minh hỏi ông hay đọc chú gì viết ra cho tôi xem. Ông khách viết ra đưa cho sư. Sư có bảo đây là câu kinh có ý nghĩa, không phải là chú. Và có giải thích câu tiếng Phạn cho ông khách nghe. Sau vài ba tháng ông khách quay lại nói: Từ khi con hiểu nghĩa câu này con luyện không có năng lực nữa. Giống như câu: "Án ma ni bát mê hồng" có vẻ u u minh minh vậy đó, người nào luyện thì có năng lực. Nhưng khi giải thích ra chỉ có nghĩa là "ngọc báu trong hoa sen". Nếu mình chỉ niệm "ngọc báu trong hoa sen" thì không có linh nghiệm gì cả. Cho nên, trở lại vấn đề, khi mình hành thiền Định, hoặc thiền Tuệ, chỉ lấy hơi thở làm đề mục. Ngồi hoàn toàn tĩnh lặng theo dõi hơi thở, đừng để tâm mình chạy ra ngoài hơi thở. Nếu lâu dài và thuần thục thì sẽ trải qua các giai đoạn hay năm Thiền chi: Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất tâm. Nếu năm thiền chi này phát sanh thì đối trị với 5 triền cái: Hôn trầm thuỵ miên, nghi, sân, trạo cử và dục. Năm thiền chi phát sinh thì năm triền cái lắng dịu. Tầm là đi tìm hơi thở, Tứ là quan sát hơi thở, Hỷ là những hiện tượng tự nhiên phát sanh nơi thân. Hiện tượng thứ nhất là tiểu hỷ: ngồi tự nhiên thấy nổi da gà, mọc ốc cả người. Khi mà trú tâm hơi thở thì tâm phát sanh như vậy, đó là định luật tự nhiên. Cái thứ hai là quang tướng hay quang hỷ: Khi ngồi thiền hoặc đi hành thiền thì người phát ra ánh sáng. Sư Viên Minh khi đi Kinh Hành trong Chánh điện ngạc nhiên khi không bật điện mà thấy chánh điện sáng ra. Cái thứ 3 là Khinh hỷ, mình ngồi an tịnh được thì người nhẹ nhàng, lâng lâng, bốc lên. Có người bốc lên khỏi chiếu, có người thời kì Đức Phật là bốc lên tới Đức Phật luôn. Cái thứ tư là Hải triều hỷ, giống như ngồi bờ biển mà sóng chao, người lắc lư qua lại rất dễ chịu. Cái thứ năm là sung mãn hỷ: mát mẻ cả người. Nếu ngồi thiền theo dõi hơi thở mà năm hiện tượng đó phát sanh là đúng. Còn mình thấy thế giới Đức Phật, Chư Thiên, thế giới địa ngục, thấy cảnh trời này, cảnh trời nọ đều là sai lầm, trở lại hơi thở ngay. Những hiện tượng sinh vật lý do cơ thể phát sinh là bình thường. Những hiện tượng do tưởng sinh thì nhớ đó là sai lầm, trở về hơi thở ngay tức khắc. Vậy thì khi ngồi thiền chữa bệnh thì chỉ ngồi điều tâm và điều hơi thở thôi. Để nó tự làm tự, an nghỉ, cân bằng chữa bệnh. Khi tâm tĩnh lặng an nghỉ thì thân tĩnh lặng an nghỉ theo, và nó tự điều chỉnh những sai lỗi. Nó có công năng trị bệnh là vì vậy. Lưu ý là cái tưởng nó dẫn mình đi khắp nơi nhiều lắm đó, ngồi tưởng là mình thành Phật rồi, thành Thánh rồi.
Câu hỏi: Nếu Thiền tuyệt vời như vậy thì bác sĩ không còn công việc để làm nữa?
- Đúng rồi, ngay chính tôi bác sĩ cũng không làm việc được. Bao nhiêu năm nay tôi cũng không uống thuốc đông y tây y. Nhưng bệnh nhân thì còn quá nhiều và có phải ai cũng ngồi thiền được đâu. Thông thường bệnh là do mình sống sai sự vận hành của Pháp. Cho nên quý vị để ý điều này, bệnh của chúng sanh không phải cái gì cũng do nghiệp. Chúng ta bị bệnh vì sống sai định luật của trời đất. Chúng ta sống bị chi phối bởi 5 định luật trời đất đó là: Định luật của thế giới vật lí vô cơ, định luật của thế giới vật lý hữu cơ, thứ ba là định luật của tâm, thứ tư là định luật của pháp và thứ năm là định luật nghiệp báo. Chỉ có cái thứ 5 này chúng ta mới hoàn toàn chịu trách nhiệm. Cho nên ví dụ nếu chúng ta để đầu trần đi nắng, về đau đầu và kêu ta bị nghiệp, không phải, do mình sống sai định luật. Tương tự mình ăn quá nhiều sinh ra bị đau, kêu là mình bị nghiệp, không phải, do mình sống sai định luật. Mình ăn uống quá nhiều vật này vật kia mà cơ thể không tiêu hoá nổi, ngồi quá lâu cũng sống sai định luật của trời đất. Cho nên đa phần chúng ta bị bệnh là do sống sai định luật trời đất.
Có người bị bệnh cũng do bệnh nghiệp. Câu chuyện này có lẽ các vị biết rồi: có người bị bệnh gì đó mà đi bác sĩ tìm không ra. Ở Mỹ này, có một nhà thôi miên đã liệt kê các bệnh này. Bởi vì khi đi bác sĩ soi bệnh thì đều không thấy có. Đơn cử có người bị bệnh đau buốt ngang thắt lưng mà không tìm ra bệnh. Khi đến gặp nhà thôi miên mới khai ra là: Vào thế kỉ 17, ông là sĩ quan quân đội, ông dẫn kẻ thù qua một khi rừng. Người nào cũng bị trói. Ông giam những người đó dưới khe. Nửa đêm nước dâng lên ngang bụng làm chết các tù nhân. Đến giờ này ông bị bệnh lạnh buốt ngang lưng. Đó là dư nghiệp của quá khứ. Mà nghiệp quá khứ thì chữa bệnh không thể chữa được. Còn đa phần tất cả chúng ta là do sống sai định luật trời đất. Các trường hợp các sư bị bệnh này bệnh kia là vì các sư lo công việc chùa chiền, xã hội chúng sanh nhiều quá. Đôi khi kiếm tiền trả bill chẳng hạn. Đa mang quá nhiều, ôm vác quá nhiều nên bệnh phát sinh là vậy.
Câu hỏi: Thưa thầy, nếu người nào đó theo Đức Phật mà theo đức tin nhiều quá thì có thành tựu hay không, hay là phải đi theo các dòng thiền?
- Được, bởi vì chúng ta có ba căn cơ khác nhau, căn cơ trí tuệ, căn cơ đức tin và căn cơ tinh tấn. Bồ tát cũng có ba loại: Bồ tát trí tuệ, bồ tát đức tin và bồ tát tinh tấn. Đức Phật Gotama trước đây là bố tát trí tuệ, mặc dù thành tựu mười công hạnh ba la mật nhưng trí tuệ vẫn dẫn đầu. Người mà trí tuệ dẫn đầu thì sẽ đi nhanh nhất thành tựu nhanh nhất. Tiếp theo là đức tin, các vị bồ tát làm các công trình tôn giáo, tín ngưỡng. Tinh tấn là phục vụ chúng sanh. Có nhiều Thầy, sư hoặc phật tử luôn làm công trình phục vụ chúng sanh là con đường cho sự thành tựu sau này. Cho nên con đường trí tuệ nhanh nhất, con đường đức tin là thứ nhì, con đường tinh tấn là lâu thành tựu lắm. Có rất nhiều người tinh tấn phục vụ chúng sinh thì họ không để ý tới đức tin và trí tuệ. Có người đức tin mạnh thì trí tuệ yếu, tinh tấn yếu. Người nào đi theo hạnh nguyện nào cũng được cả. Cho nên có người không tu thiền được thì họ đi theo hạnh nguyện phục vụ chúng sanh, cuối cùng cũng thành tựu. Họ thành tự như Đức Phật Di lặc, ngài đi theo con đường tinh tấn, sau này đồ chúng ngài rất đông. Đi theo hạnh trí tuệ như Đức Phật Gôtama đồ chúng ít. Đi theo hạnh đức tin đồ chúng đông hơn nữa. Đi theo hạnh tinh tấn vì phục vụ chúng sanh nên duyên chúng sanh nhiều hơn nữa. Ai đi theo con đường nào cũng tốt cả tuỳ theo tâm trí và hạnh nguyện của mình.
Câu hỏi: Con nghe nói, Đức Phật nói Phật Di lặc ham chơi, do chơi với mấy ông nhà giàu nên còn ham chơi trên đó, còn Đức Phật hoá sanh trước. Nhiều khi con thấy người ta bảo thời mạt pháp chúng sanh đi sai đường. Vậy sao Đức Phật Di lặc không thương chúng sanh ra sớm sớm một chút xíu thay vì rong ruổi đi chơi?
- Ngài phục vụ chúng sanh là thong dong với chúng sanh chứ không phải ham chơi đâu. Ngài sinh tử với chúng sanh. Các vị tưởng tượng Đức Phật Di Lặc chưa ra đời đâu, khi nào tuổi thọ của chúng sanh quả đất này còn khoảng 10 tuổi. Hiện tại giờ ta thấy hiện tượng giết người phát sanh nhiều, hiện tượng dâm dục phát sanh nhiều. Khi chúng sanh 10 tuổi thì 5-6 tuổi đã lấy vợ chồng. Cái ác đến tận cùng, mọi người chỉ thích giết nhau thôi. Đến giai đoạn đó có một vài người hồi tâm, bảo chúng sanh thôi đừng giết nhau nữa. Từ đó tuổi thọ tăng lên, cứ 100 năm tăng 1 tuổi. Cho đến khi 8400 tuổi Đức Phật Di Lặc mới ra đời. Truyền thống thì lâu lắm Đức Phật Di Lặc mới ra đời. Khi đó quả đất này cũng hoại diệt, tất cả mọi người lên cõi trời quang âm thiên. Muốn gặp Phật Di Lặc à, thì thôi kiếp này tu giải thoát luôn đi chứ gặp Phật Di Lặc lâu lắm.
Câu hỏi: Con có nghe một vị Phật sống cao tăng Tây Tạng, con có hỏi về mấy cõi Phật pháp thì con phải thật thanh tịnh, không còn tham sân si phiền não thì các vị ấy mới đón về. Chỉ có Cõi Phật Adidà, nơi Đức Phật từ bi nhất thì mới đón các vị về?
- Không có một vị Phật nào cả, từ Đức Phật Thích Ca trở về sau chỉ có vị Phật Di Lặc nữa thôi. Cho nên Phật sống là hơi tôn sưng bậy bạ, rồi Phật hoàng Trần Nhân Tông, Phật Tây An. Rồi nói Kiến Tánh Thành Phật thì không biết bên Trung Quốc có bao nhiêu vị Phật rồi. Thiền tông nói Kiến Tánh thành Phật, đó là cái thấy được Pháp, giác ngộ thấy rõ được Pháp. Mình có được trí tuệ, khi mình bị khái niệm Phật bị trói buộc ở đó rồi, mình nghĩ Phật là một đức chánh đẳng giác thì sai lầm. Bởi vì từ Phật Thích Ca đến Phật Di lặc không có một vị Phật nào tồn tại trong ba cõi sáu đường, tam thiên đại thiên thế giới. Vì thế nói Phật Tây Tạng là Phật tào lao đó. Không có Phật thật đâu.
Câu hỏi: Đức Đạt Lai Lạt ma là một vị Phật? Con có đọc hồi kí của ngài, thì ngài là đời thứ 14, nhưng từ đời thứ 2 ngài đã tu hành đắc đạo thành Phật rồi. Ai nói thì ngài nói là ngài là Phật tử bình thường thôi.
- Phật sống là do thế gian tôn xưng. Phật tử bình thường là ngài nói đúng đó, ngài hiểu tiểu sử Phật giáo đó. Không có 1 vị Phật nào do thế gian hay truyền thống tôn xưng. Chúng ta phải hiểu rõ như vậy. Và không có vị Phật nào rước ai cả. Đức Phật không tiếp rước ai cả. Chúng sanh muốn tu thì phải nhảy xuống bơi qua sông. Chứ không phải Đức Phật phóng hào quang đón rước, nâng đỡ người này người nọ. Ai tâm trí như thế nào, phước đức như thế nào, căn lành như thế nào, ba la mật thành tựu như thế nào là tự động thành tựu. Nhân như nào quả như vậy, không có vị Phật nào rước ai cả. Nếu như rước bậy rước bạ lên thì trên cõi Phật A di đà công an hình như nhiều rồi đó.
Câu hỏi: Muốn tu học, ăn chay niệm Phật, ngồi thiền tụng kinh để được gặp Phật thì sẽ gặp ở đâu hả Thầy?
- Ăn chay niệm phật tụng kinh thì mình sinh lại cõi người và cõi trời. Gặp Phật thì tâm mình như Phật. Còn ăn chay niệm phật tụng kinh thì tạo thiện báo, sinh lại làm người và làm trời.
Câu hỏi: Xin hỏi thầy, những người tu thiền thì đi về cõi nào?
- Người tu thiền định đạt cận hành định trước khi lâm chung thì về cõi trời Đâu Suất. Còn hành thiền mà đạt an chỉ định thì thành vị Phạm Thiên ở cõi trời sắc giới. Trú cận định cận hành, có nghĩa là tâm gần trú một điểm rồi nhưng mắt tai mũi lưỡi thân ý của mình, tức là 6 cửa không còn nghe 6 cửa bên ngoài, nếu lúc đó lâm chung thì đến cõi trời Đâu Suất.
Câu hỏi: Nghĩa là cõi Phật Di Lặc đó hả thầy?
- Ừ, lên trên hỏi thử coi. Tương truyền Đức Phật Di Lặc ở đó, tuy nhiên ở kiếp cuối cùng ngài mới sinh lên cõi trời Đâu Suất, sau khi tròn đủ 10 pháp ba la mật. Giống như bồ tát Sĩ Đạt Đa ở cung trời Đâu Suất hạ xuống trần gian ở kiếp cuối cùng. Tưởng tượng 8400 tuổi chúng sinh nữa Đức Phật Di Lặc mới ra đời, thì giờ chắc ngài còn lang thang đâu đó. Nhưng tương truyền rằng ngài đang ở nội viện cõi trời Đâu Suất.
Câu hỏi: Nam mô bổn sư Thích Ca Mô Ni Phật. Trong Nam tông không tụng Nam Mô Adiđà, vậy là sao thưa thầy?
- Là vì Nam tông là thuộc Therevada, chỉ có Tịnh Độ Tông mới tụng Nam Mô A di đà. Kinh A Di Đà là Kinh phương tiện, do ngài Huệ Viễn thành lập vào năm ba trăm hai mấy đó, ngài thành lập hội niệm Phật đầu tiên lớn nhất thế giới. Sau đó Pháp môn Niệm A di Đà mới lan truyền rộng ra. Cái này dựa theo phẩm Phổ Môn. Mà Kinh A di đà quần chúng đang hiểu mới hiểu hiện nghĩa, nghĩa đại chúng, chưa hiểu nghĩa vi tế ẩn trong Kinh A Di Đà. Trong Kinh A Di Đà hồi sáng thầy có nói, lên đó rồi còn tu tập nữa. Vì con chim trên cõi đó hót: Ngũ căn ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chánh đạo phần, vậy thì kinh phương tiện nói rằng, khi tâm thanh tịnh rồi thì bắt đầu tu tập 37 trợ đạo phẩm. Vì Ngũ căn ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chánh đạo phần là tóm tắt của 37 trợ đạo phẩm. Vì Kinh A Di Đà là Kinh phương tiện, nên sau khi tu tập Ngũ căn ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chánh đạo phần thì cuối cùng là Cửu Phẩm Liên Hoa Vi Phụ Mẫu Hoa Khai Kiến Phật Ngộ Vô Sanh. Cửu Phẩm Liên Hoa nói về bốn đạo, bốn quả và một Niết Bàn, còn Hoa Khai Kiết Phật Ngộ Vô Sanh, là Vô sanh chứ không phải hữu sanh. Cho nên rốt ráo là ngộ Vô Sanh. Cho nên bao giờ kinh điển, kinh phương tiện nó ý nghĩa khác. Chúng ta chỉ hiểu hiển nghĩa mà không hiểu nghĩa vi tế ẩn chìm trong kinh điển. Quý vị về lấy kinh A di Đà đọc lại đi.
Câu hỏi: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca mô ni Phật. Con kính sức khoẻ thầy, con là phật tử Nguyên Hoa. Hôm nay con học được về cách thầy dậy về Thiền. Con cũng trải nghiệm được vài năm vừa rồi, con cũng về vùng sâu nơi các trại cùi. Các Sơ lo cho bệnh nhân, trong các năm gần đây con thấy bệnh nhân ngồi Thiền miên mật lắm. Sau đó con có thưa thỉnh, quý cụ bệnh nhân có nói: Đúng rồi, Sơ bề trên cũng cho ngồi thiền 3 thời mỗi ngày. Con có hỏi cảm tưởng bệnh nhân thì vị nói rằng: vị thấy rất nhẹ tâm và an lạc. Tự nhiên các bệnh cũng được giải trừ trong lúc đó. Con về cũng thực tập thiền, con thấy tâm mình có tịnh lại thì thân cũng an tịnh.
- Cái Thiền của Phật giáo trở thành văn hoá tâm linh của Nhân loại. Không còn gói gọn trong Phật giáo nữa. Có các vị linh mục cũng đến học thiền thầy. Vị tổng giám mục Huế dẫn lên một trăm mấy chục vị lên hỏi thiền Thầy. Hỏi rõ thiền định thế nào, thiền tuệ thế nào. Thực ra Tôn giáo nào cũng có định có thiền mà họ không biết đấy, ví dụ như có nhiều trường hợp ngồi chiêm ngưỡng đức mẹ, rồi nhập tâm, về sinh con ra giống Đức Mẹ y chang. Bởi vì tâm tưởng vẽ y chang Đức Mẹ vậy. Cho nên trong nhà Giòng có nhiều cô gái giống Đức Mẹ vậy. Tuy nhiên các giáo phái chỉ dừng ngang mức độ đó thôi, giống như giáo phái Bà La Môn, họ không đi lên tầng tuệ giác như Đức Phật Thích Ca. Cho nên các phương pháp thiền này thiền nọ đi vào rất nhiều các trường đại học, bệnh viện trên các quốc gia cũng là điều tất yếu vậy, vì nó chữa được các phiền não cho con người. Chữa trị luôn thân bệnh tật của chúng sanh nữa.
Câu hỏi: Thưa Thầy, Hoà thượng Giác Hạnh có dặn là không có vị phật, chỉ gọi là Bồ Tát Di Lặc thôi?
- Chưa có Phật Di Lặc, chỉ gọi là Bồ tát thôi. Bồ Tát Di Lặc. Giờ ngài còn đang là bồ tát lang thang cõi nào đó.
Câu hỏi: Thiền để mà định tâm thì con biết rồi, nhưng làm sao mở tuệ giác ra?
- Không ai mở cả, người ta nói định năng sinh tuệ chỉ là một cách nói. Nhưng khi có định rồi cần tu tập minh sát tuệ, quán thân quán thọ quán tâm quán pháp. Mới thấy rõ sinh diệt của thân thọ tâm pháp, mới thấy rõ sự vô thường, vô ngã của pháp. Khi đó mới có tuệ giác. Chứ không phải tự mở. Cho nên câu định năng sinh tuệ, ngang định có tuệ không phải đâu, ngang định mới chỉ là giai đoạn, bởi vì thế này này. Có 3 cấp độ định: Cấp độ thứ nhất là định tứ thiền. Trong Kinh Bộ Đức Phật dạy từ định tứ thiền nếu hướng đến khả năng phép lạ thì có phép lạ, có ngũ thông. Nếu hướng đến chánh trí giải thoát thì có chánh trí giải thoát. Nếu hướng đến các cõi trời vô sắc giới thì đắc cõi trời vô sắc giới. Cấp độ thứ hai là cấp độ cận định, hành giả tu tập thiền định đến cận định dừng ngang đây, không đi sâu vào sơ thiền để tu tập tuệ giác. Có trường hợp không cần tu định, mà bình thường như chúng ta, đi thẳng vào tuệ quán minh sát, thì cũng đạt được giác ngộ giải thoát. Cho nên cả ba trường hợp tuệ phát sanh, có người không cần định đi thẳng vào luôn. Có người ngang cận hành mới đi vào tuệ, có người đạt định tứ thiền mới đi vào tuệ. Rõ ràng như vậy chứ nó không tự mở. Bước qua một giai đoạn tu tập khác mới có trí tuệ.
Câu hỏi: Mô Phật, con xin có câu hỏi, xin thầy giải thích cho chúng con biết rõ, thiền Vipassana là của thiền Nam truyền, nguyên thuỷ là thiền minh sát tuệ. Xin thầy giải thích cho chúng con rõ thiền Minh sát tuệ với thiền tông. Chúng con là phật tử ở Houston phần đông tu tập Thiền Tông, chúng con có nghe và tu tập thiền Vipassana nhưng không hiểu lắm. Xin kính thầy hôm nay giảng cho chúng con về Thiền Vipassana và Minh sát tuệ để chúng con hiểu? Con cám ơn thầy.
- Hồi nãy có ngồi thiền, thầy có giảng về tu tập minh sát tuệ trong niệm thân thọ tâm pháp đó, nhưng có lẽ nhiều người chưa nắm bắt rõ. Giờ thầy xin nói rộng hơn một tí nữa. Cái Thân chúng ta đây luôn luôn giao động, luôn luôn tác hành. Tác hành theo tư tưởng, muốn đi thì nó đi, muốn ngồi thì nó ngồi, mà ngồi lâu thì không chịu được, nó nhúc nhích, nó phản ứng lại. Thân chúng ta bị thói quen từ xưa chi phối, cho nên thân không yên thì tâm không yên. Tâm không yên thì làm thân không yên, và cứ thế tạo tác làm ra những sai lầm. Những hành động xấu quấy, gây nhân xấu gặp quả dữ, đó là định luật. Cho nên minh sát tuệ soi chiếu lại thân tâm chúng ta, bắt đầu nó sai lầm từ đâu duyên khởi từ đâu ở nơi thân tâm này. Thiền minh sát thì Đức Phật chỉ rất rõ ràng. Còn các vị Thiền sư Trung Quốc thì cũng nói được thì nói kiểu khác. Khi mà chúng ta ngồi đây, yên tịnh thế này nhưng khởi ý tư tưởng thì bắt đầu nó duyên hành duyên khởi tác động lên không gian, thời gian. Ví dụ ở đây, tại giảng đường Thuận Pháp có người khởi tâm mời thầy sang. Rồi Thầy bay sang Mỹ nửa vòng trái đất. Đi vòng quanh nước Mỹ, gặp gỡ trao đổi với nhóm phật tử nơi này nơi nọ. Một tư tưởng khởi sanh mà nó điều hành tương duyên tương quan sinh khởi một cách trùng trùng kinh khiếp như vậy. Tóm lại thế này, minh sát bắt đầu soi chiếu lại, từ điểm và hành động khởi sanh. Từ hành động phát sanh thói quen, từ thói quen hình thành nhân cách. Cho nên tư tưởng nó dẫn đầu tất cả mọi hành động, tư tưởng tạo tác thế gian. Tư tưởng đem đến trùng trùng đau khổ cho thế gian, và đồng thời đem đến an lạc cho ngàn trùng thế gian này. Một tư tưởng trụ thuyết sai lầm sẽ làm khổ cả địa cầu, khổ cả nhân loại, thiêu cháy cả địa cầu, nhân loại. Một tư tưởng tốt lành thiêng liêng cứu rỗi cho cả thế gian thế giới. Cho nên đầu tiên lành tốt xấu ác từ tâm địa chúng ta mà khởi sanh. Vậy thì minh sát soi chiếu này điểm mà nó khởi sanh. Ví dụ như có thiền sư nói Khán thoại đầu (khán là xét - xét đầu câu nói): Từ khi chưa khởi, khởi ra là chụp liền. Khán thoại đầu là xem từ khi chưa nói, bởi vì khi nói ra là ra rồi. Là tác động vận động, động chạm cả thế giới rồi. Cho nên người tu hành nghiêm túc là lắng nghe từ khi lời nói bắt đầu nói ra. Có vị thì nói: ông hãy nói ra một tiếng chân đế đi. Chân đế là tiếng nói ngoài khái niệm, làm sao mà nói tiếng nói ngoài khái niệm được. Mơ hồ và có gì đó nó cao siêu quá, bí ẩn quá, nó khác với cách hướng dẫn của Đức Phật. Đức Phật thì ngồi thế này, lắng nghe thân thọ tâm pháp. Cái gì khởi lên vận hành ra sao là biết tức khắc, ý nghĩ khởi lên cũng biết tức khắc. Hiện tại thì thầy đang tu lắng nghe ý nghĩ, bao nhiêu năm nay thầy chỉ nghe ý nghĩ thôi, hắn vừa thấy cái hoa biết cái hoa, nghe thấy âm thanh biết âm thanh, nhìn ly nước biết ly nước. Cái ý tưởng chạy vô bếp là biết chạy vô bếp, ý nghĩ chạy ra phố là biết chạy ra phố. Mấy năm nay thầy chỉ lắng nghe ý nghĩ mà tu tập thôi. Đến chỗ mà gồm chung cả thân thọ tâm pháp. Sống tự nhiên tự tại, mắt nhìn thấy hoa, tai nghe âm thanh, mũi ngửi hương lưỡi nếm vị. Để tâm hoàn toàn rỗng lặng trong sáng đón nhận hoàn toàn trời đất trăng sao mây nước, đón nhận tất cả tốt lành xấu ác mà cố gắng không dính mắc. Đó là kết quả của minh sát.
Đi vào từng niệm một, quán thân. Thế nào là niệm thân. Hồi sáng thầy có nói là: Bát chánh đạo tóm tắt lại chỉ còn tinh tấn chánh niệm tỉnh giác. Tinh tấn là đại biểu cho ngữ nghiệp mạng, niệm đại biểu cho niệm định, tỉnh giác đại biểu cho chánh kiến, chánh tư duy. Cho nên bát chánh đạo tóm gọn lại chỉ còn tinh tấn chánh niệm tỉnh giác. Khi chánh niệm tỉnh giác thì đã có tinh tấn rồi nên bỏ luôn tinh tấn chỉ còn chánh niệm tỉnh giác. Khi có niệm và tỉnh giác thì có đầy đủ bát chánh đạo. Khi đó dùng chánh niệm tỉnh giác lắng nghe thân, lắng nghe thọ, lắng nghe tâm, lắng nghe pháp. Gọi là tu tập tứ niệm xứ,minh sát tứ niệm xứ. Và trong kinh tứ niệm xứ Đức Phật cũng dậy đây là con đường độc lộ, độc đạo, là con đường duy nhất đi đến chánh trí, giác ngộ, giải thoát, Niết Bàn. Và không có con đường nào khác.
Niệm Thân: bây giờ quý vị ngồi lại đi, để niệm thân trở lại. Cái thân chúng ta đây, phải chịu mặc áo ăn cơm, cái thân phải chịu mưa nắng tuyết sương, chịu già lão, đau nhức bệnh tật trong người. Xảy ra như thế nào chúng ta ghi nhận như thế. Cái đó là quả đang xảy ra rồi. Chúng ta chỉ có thể thay đổi nhân bằng nhân mới. Cho nên hiện tại cái thân là của chúng ta, không rời bỏ đi được. Đau nhức tê ngứa, bệnh này bệnh kia chúng ta cũng đành chịu. Mình không thể nói cái thân đừng đau tế ngứa hay đừng bệnh tật được. Như vậy người có tuệ quán nhìn cái thân này thì chỉ nhìn đó thôi. Ghi nhận sự thật, ghi nhận chân lý. Ghi nhận rồi xem thử cái gì tác động nơi thân. Người niệm thân giống như người gác cổng nơi thân, canh cửa xem cái gì tác động. Vẫn chánh niệm tỉnh giác hơi thở để theo dõi. Đó là minh sát nơi thân.
Tiếp theo là Niệm Thọ, tạm thời bỏ qua các thọ vi tế: Ví dụ cái áo tiếp xúc làn da, thân tiếp xúc toạ cụ là các thọ vi tế mà chúng ta không cần phải quán. Cái thọ nào phát sanh phiền não thì mới quán. Có vị thiền sư đưa ra cái mẹo khi niệm thọ. Vị ấy để tâm huyệt bách hội, cái tâm lần lần đi theo, nới rộng ra. Lắng nghe xem có cái thọ nào phát sanh ở đó hay không, vị ấy đi từ từ đến gót chân. Tâm chúng ta chuyên chú miên mật đi từng xăng-ti-mét một từ huyệt bách hội xuống gót chân. Khi đó quý vị sẽ cảm nhận sự an tịnh sâu xa. Theo dõi như vậy cũng là vừa định vừa tuệ. Khi có xúc mới có thọ, khi cái gì tác động lên thân mới có thọ. Nhưng cái thọ nào phát sanh tham, sân thì đó là những vấn đề cụ thể với chúng ta. Cái đó là dòng luân hồi diễn tiến rồi đấy.Tại sao vậy: Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, thọ rồi ái thủ hữu đi theo. Cái thọ này mà ta không ghi nhận thì sinh ra ái, thủ hữu. Cái ái này gồm tham sân, cái được thì tham, không được thì sân, bắt đầu chấp thủ. Thủ sinh hữu, phát sinh dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu. Tuy nhiên mình tạo hạt giống ba cõi rồi, cõi dục, sắc, vô sắc thì dòng luân hồi tiếp diễn. Cho nên rất nhiều trường thiền, ngang cái niệm thọ này phải ghi nhận nó ngay, không nó chạy qua ái liền, rồi thủ hữu liền. Trong vòng tròn thập nhị duyên khởi là vòng tròn vô thủy vô chung, nó không phải nằm tuyến tính. Nếu rút được một khoen ra thì vòng luân hồi nó đứt hết. Ngay cái thọ rút khoen thọ ra thì đứt vòng thập nhị nhân duyên. Vòng thập nhị nhân duyên không phải một lần, hàng ngày có hàng triệu vòng thập nhị nhân duyên phát sanh. Mình gỡ được vòng này chút nữa có vòng khác. Ví dụ: Nghe một tiếng chửi, lỗ tai ghi nhận, bắt đầu toàn bộ thần kinh báo động, nên tâm mới bị khó chịu, rồi một hồi từ khó chịu sinh ra nóng nảy, sân. Nó diễn tiến rất nhanh. Khi có sân rồi, thì chuyện gì xảy ra. Sân phát sanh tư tác, phát sanh nghiệp sân.
Thủ là chấp thủ cái nóng giận đó, hữu là tạo tác hạt giống, thì dòng diễn tiến sinh tử tiếp tục. Nếu ngang tai, toàn bộ hệ thống thần kinh và tâm là các thành trì. Nếu nghe tiếng chửi, người hành thiền minh sát chỉ ghi nhận: Chửi à, chửi à, chửi à. Niệm hoài không được, tâm bắt đầu nóng rồi. Toàn bộ thần kinh báo động rồi. Nếu thần kinh ghi nhận, thì niệm: nóng à, nóng à, nóng à. Trong tâm sân rồi, thì niệm: sân à, sân à, sân à. Nếu thua cuộc thì dòng luân hồi diễn tiến. Nếu niệm một hồi mà sân đi mất thì mình đã rút được cái khoen đó đi rồi, đó là niệm thọ. Niệm thọ cũng là niệm tâm. Như Đức Phật nói: Tâm tham biết tâm tham, tâm sân biết tâm sân là vị vậy. Đến ngang chỗ tâm vẫn còn niệm được. Cho nên, nếu khi quý vị hành thiền như vừa nãy, lắng nghe thân thọ tâm pháp như vậy, cái gì xảy ra thì ghi nhận, một hồi để rỗng không thì nó đi. Nếu nó chạy vào nơi tâm rồi thì niệm tâm. Nên có trường thiền chuyên về niệm tâm. Như thiền của sư huynh tôi thì chỉ niệm pháp, mà cũng không phải niệm pháp nữa. Niệm pháp để tự nhiên ghi nhận, cho nên tuỳ duyên thuận pháp là đến giai đoạn cuối cùng. Cứ an nhiên thế thôi, sống tuỳ duyên thuận pháp, sống hồn nhiên vui vẻ với ăn cơm mặc áo lái xe, hồn nhiên thanh thản. Cái gì tác động mạnh mới ghi nhận chút. Tốt lành xấu ác, cái gì đến ghi nhận không cho dính mắc. Cho nên quý vị hành sự hạ thủ thì tập từng chút một, đầu tiên ngồi niệm thân đã. Nó dễ ghi nhận, thọ nó sẽ vi tế hơn. Nếu niệm thân huân tập thành năng lực tự phát. Cho nên các trường thiền, giai đoạn niệm thân: khi đi biết đi, đứng, quay phải, quay trái, đưa tay lên, tay cầm muỗng ăn cơm. Nếu ngày mai có cơ hội thì thầy trò mình ngồi chỗ này, chánh niệm tỉnh giác, ghi nhớ trở về với binh ổn với trở về thân thọ tâm pháp như thế này. Làm gì biết nấy rõ ràng, ăn cơm, uống nước rốt ráo chánh niệm. Đó là giai đoạn niệm thân. Cho nên quét nhà, rửa chén bát, hoàn toàn mọi động tác oai ghi đều ghi nhận rõ ràng. Khi mặc áo, ăn cơm, lái xe đều tĩnh tại, chánh niệm tỉnh giác rõ ràng thì là niệm thân. Quý vị tập một thời gian như vậy. Bản chất cái thân nó vận động thô tháo. Ghi nhận thô tháo đó một thời gian rồi mới quay ra niệm thọ được. Bởi vì cái thọ nó vi tế hơn. Cái khổ lạc xả nơi thân các vị cũng ghi nhận, cái hỷ ưu xả nơi tâm, thọ nơi tâm cần một thời gian mới thấy được nó. Khi thọ nơi tâm rồi mới quay qua niệm tâm được. Tâm nó càng vi tế hơn nữa. Còn Pháp là cái tương quan phát sanh giữa thân thọ tâm. Pháp cũng là cái gì đang phát sanh nơi ta, là đối tượng của tâm. Khi đó chúng ta mới đi trọn vẹn bốn cấp độ của thiền minh sát. Minh sát là thấy biết rõ ràng như thực. Đôi khi chúng ta tưởng rằng như thực là cái gì chân lý mơ hồ trừu tượng, trong thế giới của triết học ý tưởng. Không phải, như thực là uống nước, ăn cơm thấy như thực. Thấy như thực thì không có tưởng chi phối, thức chi phối, không có kinh nghiệm, không chuyện quá khứ vị lai xen vào, tự động tiêu trừ phiền não, tham sân si. Như thực cái chổi, cái bát, lau sân quét nhà. Hiện tại đang là đó thì không có tâm phiền não xen vào. Tâm của ta khi đó trong sáng. Chứ không phải chân lý nằm trong định nghĩa của các nhà triết học, học thuyết. Như thực như chơn là rõ ràng. Đang để tay, để chân như thực, lắng nghe như vậy là như thực, là đang xảy ra trong thế giới chúng ta đây. Chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây. Tóm tắt pháp quán tứ niệm xứ là như vậy. Buông xả cái là hết. Quý vị để tâm buông xả như vậy. Cái gì đến thì mình nhìn nó, cứ an nhiên tự tại với hiện tại, cái gì xảy ra đã xảy ra rồi, hôm nay hoàn toàn mới mẻ, thân mới, tâm mới, sát na mới, hiện tiền mới mẻ. Chúng ta lại sống với bóng khói quá khứ. Tự động sầu não. Trở về với như thực là về với cái đang là. Hoá ra tất cả các pháp môn tu là phương tiện cả. Đi loanh quanh giống con kiến bò quanh miệng chén. Chỉ cần trở về với bây giờ đây, chúng ta sống với khoảng khắc này, thời khắc này là vĩnh cửu. Chân lí chỉ có xảy ra bây giờ, chúng ta chỉ có sống ở giây khắc này, vĩnh cửu không lặp lại. Sát na sau lại mới mẻ, không lặp lại. Người giác ngộ giải thoát hoàn toàn sống mới mẻ trong từng giây khắc một. Tôi tin là các bậc A la hán đoạn tận lậu hoặc rồi họ sống như vậy đó. Cho nên họ sống an nhiên đầu đội trời chân đạp đất, mưa nắng đi phương này sang phương khác, đôi khi thức ăn thiếu thốn, đồ mặc thiếu thốn, thiếu thốn tất cả mà lặn lội từ Tây trúc đi xứ này xứ kia. Ngày xưa đâu có phi cơ. Nói về như thực đó để chúng sanh tự cứu lấy khổ cho chính mình. Tôi nói tóm tắt vậy rồi đó.
(Chép lại từ nguồn Youtube)
Nhận xét
Đăng nhận xét